Đeo đồ trang sức Mã Não làm bạn trở nên dễ mến trong giao tiếp cũng như bảo vệ bạn chống lại kẻ thù thâm độc. Tên gọi Mã Não (Agate) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ Ahates – có nghĩa là “hạnh phúc”.

Tên gọi khác biến thể đá Mã não: đá Mã Não pháo đài (Có hoa văn giống như hình vẽ trên bản đồ cổ), đá Mã Não cành cây (Phân nhánh hình cành cây, có hoa văn trông như cây rừng), đá Mã Não mắt cú (Có hình con mắt). Nguồn gốc Mã Não gặp chủ yếu trong hốc của đá phun trào và các thành tạo nhiệt dịch nhiệt độ thấp.

Đặc điểm chính:

Mã Não(Agat) là dạng biến thể của chalcedony thớ mịn mà đặc trưng là có màu phân lớp. Những lớp màu có dạng đồng tâm hoặc dạng dài. Màu của đá Mã Não dao động từ trắng sữa, phớt vàng, phớt xanh lục, đỏ đen. Loại đẹp nhất được gọi là Mã Não “mắt” hoặc Mã Não “mắt kính” với những lớp đồng tâm quanh một điểm ở trung tâm.

Tính chất: 

Ở châu Âu, đá mã mão là biểu tượng của sức khỏe, sự hưng thịnh và trường thọ. Ở Ấn Độ là biểu tượng của của sự hưng thịnh. Đồ trang sức đá Mã Não làm cho chủ của nó trở nên dễ mến trong giao tiếp và biết ăn nói, cũng như bảo vệ chủ chống lại kẻ thù thâm độc. Bằng cách hấp thụ năng lượng có hại, đá Mã Não có thể bảo vệ chủ chống lại những xung năng lượng xấu, mã não là loại đá của nữ thần màu mỡ–bảo trợ cho những chủ trang trại và người làm vườn. Nhẫn gắn mặt đá Mã Não làm cho người đàn ông trở nên quyến rũ hơn trong mắt phụ nữ. Mã Não là biểu tượng của chòm sao Kim Ngưu và Song Tử trong cung hoàng đạo, năng lượng cảm thụ âm có tác dụng tới tất cả các luân xa tuỳ theo vào màu sắc của đá.Mã Não có độ cứng cao chịu được axit nên được dùng để chế tác các trục máy, chốt căn chính xác. Loại đẹp dùng để làm trang sức đá.

Công dụng:

– Miếng đá mã não được cắt ra tương đối to có thể đặt dưới bàn chân, ngồi thiền theo tư thế thoải mái tự nhiên, lượng khí sẽ đi từ trên đi xuống, còn tà khí sẽ được thoát ra từ gan bàn chân, làm như thế rất có tác dụng làm hết áp lực, giảm mệt mỏi và những tà khí trong người.

– Có thể đặt miếng Mã não dưới mông và ngồi lên khi luyện khí công, sẽ rất có tác dụng kích thích từ trường luân xa mông, nâng cao sức công, làm tăng thêm khả năng tĩnh tâm của con người.

– Những viên đá mã não có vân khi được mài giũa, có thể tạo thành những “con mắt”, có tác dụng trừ tà, rất thích hợp được dùng đeo làm bùa hộ mệnh hay vật trừ tà.

– Nông dân phương Tây thời xưa còn có thể treo đá mã não lên thân cây làm cho cây sai quả; chôn đá mã não xuống ruộng hay treo đá mã não lên sừng trâu đi cầy để làm cho mùa màng bội thu.

– Nếu có người đột nhiên phát sốt mà chưa kịp đưa đi bệnh viện, có thể đặt lên trán, lên họng hay lên ngực người ấy một miếng đá nã não sẽ làm hạ sốt, giảm cường độ cơn đau và đi bệnh viện chữa trị.

– Đặt một miếng đá mã não vừa phải xuống dưới gối nằm sẽ làm cho ngủ ngon và đem lại cho những giấc mơ đẹp.

– Hộp đựng đồ làm bằng đá mã não có thể làm cho những đồ trang sức như nhẫn, hoa tai, khuyên tai hay vòng tay giảm thiểu từ tính, nhưng bạn nhớ rằng những thứ này khi để vào hộp phải dùng giấy hoặc vải bọc lại kẻo bị trầy xước.

– Những em bé đang đi học tiếp xúc nhiều với đá mã não sẽ thông minh, linh hoạt, học giỏi, tính thích nghi cao.

– Nhân viên tiếp thị đeo vào người vòng tay đá mã não có thể tăng cường khả năng thân mật, linh hoạt ứng biến, ngoại giao giỏi, rất có lợi cho hoạt động tiếp thị, nâng cao hiệu quả công việc.

– Trong buồng the đặt Mã não, sẽ làm tăng thêm sự ái ân vợ chồng, làm cho cuộc sống buồng the càng thêm mặn mà.

– Một số Mã não còn hàm chứa một lượng oxit sắt rất phong phú gọi là Mã não lửa (Fire Agate), khi được cắt mài sẽ hiện ra những đốm hoa như có trong lòng trắng trứng ( Như hoa lửa-Play of Fire), màu sắc ấm áp, lung linh, rất được ưa dùng làm đồ trang sức, vài người cho rằng đeo loại trang sức này vào có thể phòng được cảm sốt, cảm lạnh hay thương hàn.

– Những người có cá tính kiêu kỳ, lạnh nhạt không hoà mình với mọi người, những người không muốn chia sẻ với những người khác hay những người luôn tự ty, khi đeo vào người vòng tay mã não sẽ làm tăng nhiệt huyết, dần bỏ được những cá tính nêu trên.

– Những người da nóng, da gà, bao gồm cả chứng hay ra mồ hôi tay mồ hôi chân, nếu thường xuyên tiếp xúc với đá mã não có thể cải thiện được tình trạng trên.

– Đeo những trang sức chế tác từ đá Mã Não có thể làm giảm tính bảo thủ, làm mất đi áp lực, hoá giải những sự cãi vã của các mối quan hệ, đem lại sự êm ấm, bình thản và may mắn.

hangocviet-gioi-thieu-ve-da-quy

3.Đức Phật Di Lặc là biểu tượng cho sự an lạc, vui vẻ, may mắn và hạnh phúc.

Là vật phẩm tôn kính trong Phong Thủy, mà khi chưng bày trong nhà hoặc đeo trân trọng, trang nghiêm trên cổ sẽ mang lại rất nhiều điều tốt lành cho gia chủ, gia đạo…

Tuy vậy nhưng không có mấy người trong chúng ta biết rõ truyền thuyết về sự ra đời của Ngài, những thông tin dưới đây có lẽ là khá đầy đủ nếu bạn thật sự muốn tìm hiểu! Theo kinh sách, Đức Phật Di Lặc xuất thân từ một gia đình quý tộc Bà La Môn ở thôn Kiếp Ba Lợi thuộc Nam Thiên Trúc (Ấn Độ cổ đại), có hiệu là A-Dật–Đa (Adijita) nghĩa là bô năng thắng (không gì có thể thắng nổi). Di Lặc là phiên âm từ Phạn ngữ có nghĩa là “Từ Thị” (cái nhìn từ bi, lòng từ bi). Phật Di Lặc là người cùng thời với phật Thích Ca, theo xuất gia, tu tập chính pháp.

Tín ngưỡng Phật Di Lặc đã được lưu truyền rất sớm tại Hồng Kông thuộc dòng Đại thừa, sau này truyền sang nước ta và có ảnh hưởng rất sâu đậm. Ngay từ đời Tây Tần (265 – 316) đã có những bức tranh vẽ Phật Di Lặc, những bức tranh thời đó thường mô tả Phật Di Lặc cũng giống như các vị Bồ Tát khác, chỉ khác ở chiếc mũ đội trên đầu và trên tay có cầm một bình nước. Trong suốt các thời kỳ của Phật giáo Hồng Kông, Phật Di Lặc được mô tả ngồi trên một chiếc ghế hoặc một chiếc ngai với chân bắt chéo hoặc chân trái buông thõng xuống, tay phải chống cằm như đang suy nghĩ về tương lai.

hangocviet-gioi-thieu-ve-da-quy2

Hình tượng Phật Di Lặc ngày nay

Rất nhiều đời sau, vào thời Ngũ Đại (907-960), trong dân gian mới xuất hiện thêm một hình tượng Phật Di Lặc có miệng cười rạng rỡ hồn nhiên, sau lưng quảy bị vải gai, tính tình rộng rãi cởi mở, rong ruổi khắp nơi. Đó chính là hình tượng Phật Di Lặc thường thấy ngày nay trong những tranh tượng, kinh sách ở các tự viện Phật giáo và được gọi là “Tiếu khẩu Di Lặc Phật”. Đây chính là một hình tượng mà các nhà nghiên cứu phương Tây đánh giá là: “một biến đổi độc đáo trong sáng tạo, gây nhiều kinh ngạc” hay : “một sự biến thái kỳ diệu hoàn toàn của người Trung Hoa”.

Tiểu Khấu Di Lặc Phật, trong dân gian còn gọi là “Tiếu Phật” hay “Di Lặc Phật bụng phệ” đã xuất hiện rất nhiều tại các tự viện tỉnh Triết Giang (Hồng Kông) vào sau thời Ngũ Đại do người ta tạo hình tượng theo tướng mạo của một vị hòa thượng có tên là Khế Thử. Hòa thượng Khế Thử là người vùng Minh Châu (Triết Giang), hiệu là Trường Đinh Tử, ông thường hay chống tích trượng, quảy một túi vải gai, ngao du khắp nơi vừa hành khất vừa thuyết pháp, nên người cùng thời gọi ông là “Bố Đại Hòa Thượng” (hòa thượng túi vải).

Theo truyền thuyết thì Bố Đại hòa thượng có thân hình béo tốt, y phục tùy tiện, ngôn ngữ hành vi đều không câu nệ tiểu tiết, có biệt tài dự đoán lành dữ, biết trước nắng mưa gió bão rất linh nghiệm, thần bí khôn lường. Năm Trinh Minh thứ 2 đời Hậu Lương (916), Bố Đại hòa thượng ngồi trên một tảng đá ở Nhạc Lâm Tự mà nhập tịch, ông để lại một bài kệ viết rằng : “Di Lặc đúng Di Lặc, phân thân ra muôn vàn. Mọi lúc đi dạy người đời mà người đời không biết”. Dựa vào bài kệ đó, người ta cho rằng Hòa thượng Khế Thử chính là Phật Di Lặc hóa thân chuyển thế, bèn an táng thân thể của ông tại một nơi cách Nhạc Lâm Tự 2 dặm về phía Tây, lập tháp thờ phụng đặt tên là “Am Di Lặc” và xây gác, đắp tượng… Dần dần, theo năm tháng, tượng Bố Đại hòa thượng được lưu truyền khắp mọi nơi với bụng lớn, miệng cười tươi tắn lạc quan, khi đứng, khi đi với tích trượng quảy túi vải, khi ngồi với 5 đứa trẻ quanh mình tạo nên hình tượng “Ngũ tử quấy Di Lặc” hoặc ngồi với 6 đứa trẻ tượng trưng cho “Lục tặc – Lục căn” đã được giáo hóa.

Theo thời gian, hình tượng của Phật Di Lặc ngày càng phong phú, sinh động. Hình tượng Phật Di Lặc ngày nay còn được nhân gian gắn liền với tiền tài, phú quý như những hình tượng Phật Di Lặc quảy bị tiền hoặc với tay nâng hoặc tung lên những nén vàng lấp lánh… Đây cũng chính là những mong ước thiết thực nhất, gần gũi nhất của tất cả mọi người.

Thường nghe câu “Nghề Chơi Cũng Lắm Công Phu” ý nói bất cứ làm việc gì, chơi thú chơi gì, muốn đạt đỉnh cao cũng cần có lòng nhiệt huyết, công phu học hỏi, sưu tầm …Chơi Đá (Ngoạn Thạch) đã có từ rất lâu, có lẽ từ thời kỳ đồ đá con người ta đã có những thú chơi đá sơ khởi…Trải qua hàng nghìn nghìn năm nghề chơi Bảo Thạch (Đá Quý) đã có kho tàng tri thức vô cùng phong phú. Đồng thời để lại rất nhiều truyền thuyết ly kỳ lãng mạn.Phàm người đã chót đa mang thú chơi Bảo Thạch bước đầu cần biết rõ ràng 28 chữ Bí Quyết mới là hảo công phu. Hai mươi tám chữ gồm “Thiên Nhiên, Hy Thiểu, Hình Kỳ, Đồ Mỹ, Chất Giai, Sắc Tịnh, Bì Hảo, Thể Hoàn, Thần Phong, Vận Túc, Xuất Điển Nhập Cố, Ngụ Ý Cát Tường”. Trong 28 chữ này thì 16 chữ đầu là thuộc Sắc Tướng, 12 chữ sau thuộc Tâm Thần…Người chơi đá sơ khởi và bậc trung thường dừng ở 16 chữ đầu, 12 chữ sau nhất định là cần công phu tu luyện Thâm Hậu.

Sau đây xin lược giải thêm về 28 chữ này:

Thiên Nhiên: Là ý chỉ rõ đá đó phải được hình thành từ trong thiên nhiên, trải qua sự đào thải, kết tinh, biến hóa của đất trời mà kết thành Tinh Hoa. Do Thiên sinh Địa tạo, hội đủ hạo Khí nhật nguyệt tinh thần. Quyết không được do con người tạo hình, tạo thế, vẽ vân, bôi màu…Đó là yêu cầu tối sơ đẳng của nghề chơi Bảo Thạch. Cũng là lúc xem xét một khối Bảo Thạch, không nên bị chi phối bởi tính chất đẹp mã, cần mài chút dưới đáy, mài chút mặt cạnh, gõ vào nghe tiếng, bỏ ra ánh sáng, soi đèn chuyên dụng, tất sẽ phân biệt rõ là đá thiên nhiên hay nhân tạo.

Hy Thiểu: Là chỉ về Bảo Thạch phải có số lượng rất hiếm, đúng với chân lý “Hiếm Thì Quý”. Trong tự nhiên có thể nói Đá có mặt ở khắp nơi, mà đá có giá trị cao, quý lại rất hiếm, nên mới được gọi là Bảo Thạch (Đá Quý). Đó là vì Bảo Thạch trước hết cần có độ cứng cao, sau nữa lại được hình thành trong các điều kiện địa chất, hoàn cảnh, nhiệt độ, độ ẩm…vô cùng phức tạp và lâu dài (Hàng triệu đến hàng tỷ năm) ngẫu nhiên mà có được một khối lượng nhỏ lẫn trong các vùng đá thông thường lớn. Trong khối đá quý lại có phần quý hơn. Đó là điều kỳ diệu của thiên nhiên ban tặng cho con người.

4.Hình Kỳ: Là chỉ rằng Bảo Thạch cần có hình thù đặc biệt kỳ lạ. Có thể tổng kết thành Tứ Kỳ (Bốn chữ Kỳ) tức Kỳ Đặc, Kỳ Quái, Kỳ Xảo, Kỳ Diệu. Quỷ Phủ Thần Công của tự nhiên vốn chỉ có thể làm người ta khâm phục mà chẳng thể nghĩ bàn. Thời xưa người chơi Bảo Thạch có bốn tiêu chuẩn Kinh Điển là “Sấu, Lậu, Thấu, Trứu” cũng như người chơi hiện nay có quan niệm Hình Tượng Cụ Thể và Hình Tượng Trừu Tượng. Cũng do hình của Đá thường do trời sinh, hoặc duy diệu duy tiêu, hoặc biến hình khoa trương, hoặc hình thần kiêm bị, làm người ta mê mẩn. Hình Kỳ mới có thể khiến người ta bỏ công săn lùng, mua bằng mọi giá. Trong tiêu chuẩn Hình Kỳ, duy có Hình Tượng Cụ Thể là khó có, đặc biệt các hình mang ý nghĩa Cát Tường, Cát Khánh…Hiếm nên càng quý. Bởi vậy đá có hình tượng cụ thể thường thường có giá trị cao hơn hẳn so với hình trừu tượng.

Đồ Mỹ: Là chỉ các đường nét đồ án trên mặt đá phải rõ ràng, kết cấu hợp lý, tạo thành bức vẽ hoàn chỉnh. Ý cảnh của đường nét diệu đẹp, hình tượng chính xác, thần vận sinh động, chủ đề rõ ràng hợp hòa. Đặc biệt không có hoặc rất ít nhân tố tạp nhạp, can nhiễu. Như nếu thuộc dạng đơn sắc (Đen Trắng như tranh Thủy Mặc) thì cần có nông sâu biến hóa. Như thuộc đa sắc, thì hình thái, đồ án sắc thái, cần phong phú, đậm nhạt thích hợp là đẹp. Sắc thái có thể phối hợp chặt chẽ khéo léo với hình nét mới thực hiếm có. Nếu thuộc loại nét như nét chữ, thì chữ cần rõ ràng, có phong vị như nét bút đại tài tử Thư Pháp. Tóm lại tiêu chuẩn Đồ Mỹ so với tiêu chuẩn của Thư Họa là hoàn toàn phù hợp. Duy có quý hơn bởi tác giả là Thiên Địa Tinh Thần.

Chất Giai: Là ý chỉ chất đá và chất đất ở hạng thượng thừa. Xem xét chất đá chất đất bao gồm xem xét các tiêu chuẩn Độ Cứng, Độ Thuần, Độ Mịn của đá. Chỉ có các loại Đá có độ cứng cao, có độ thuần nhất đồng đều, độ mịn cao mới có thể chống lại sự phong hóa của thời tiết, khí hậu, thời gian…dễ thu tàng năng lượng, không bị bào mòn. Ngược lại, tất dễ vỡ vụn, dễ bị phong hóa, không lợi cho thu hút. Chất Đá không chỉ đơn thuần nhìn bằng mắt thường, cần có hiểu biết và có phương pháp thử về vật chất cơ sở của đá. Như vậy mới có thể tuyển chọn chính xác chất Đá.

Sắc Tịnh: Sắc Tịnh ý chỉ màu sắc của đá cần phiêu lượng, sáng bóng, tươi tắn. Màu sắc phiêu lượng, không chỉ đơn thuần là tươi sáng, diễm lệ mà còn là màu sắc đặc biệt so với các loại khác đồng thời được nhiều người ái mộ. Nói về sở thích màu sắc và vẻ đẹp, có thể nói mỗi người đều có nhận thức và thiên hướng của riêng mình. Tuy nhiên đối với một số loại Bảo Thạch nhất định, lại có được sự cảm hứng chung. Quả là không tầm thường. Như Bảo Khí của Đại Hóa, Thanh Khí của Ô Giang, Cổ Khí của Tam Giang Thái, cùng Hồng, Hoàng, Lục, Tử đều là những màu được số đông ưa thích. Sắc phiêu lượng có thể do đơn thuần một màu, có thể do nhiều sắc kết hợp. Từ đó mang lại kết quả của sự nhuần nhuyễn phối hợp. Đẹp nhất là màu sắc phiêu lượng phù hợp với nét vân, đường họa của mặt đá, khiến cho hình tượng trở lên sinh động, tinh khiết, nội dung phong phú, càng thêm hoàn mỹ.

Bì Hảo: Là nói cần quan sát lớp bề mặt của đá, còn gọi là da đá, cần trơn nhẵn, ôn nhuận, bóng loáng như thoa dầu là hoàn mỹ. Cần bằng bặn, không có khe nứt, không sứt mẻ. Hoặc giả có nứt nẻ, nhưng lại kết hợp tạo thành nét đẹp. Xem xét ngắm nghía bề mặt bảo thạch chính là thưởng thức cả trăm nghìn năm thậm chí là hàng triệu năm gió thổi cát mài, nắng xói, nước mòn, không khí tác động bề mặt của hoàn cảnh mà tạo thành Bảo Thạch. Cũng có là do Bảo Thạch tự biến hóa, trong ngoài đồng nhất; có lúc là do tác động bên ngoài biểu hiện ra. Bề mặt đá càng lâu năm càng có sức thu hút, khiến người ta nhìn ngắm mãi không thôi. Quan sát bề mặt của đá cũng giúp chúng ta phân biệt xem đá có bị tác động nhân tạo hay không.

Thể Chỉnh: Là chỉ rằng khi quan sát Bảo Thạch cần quan sát toàn bộ hoàn chỉnh, toàn vẹn, không bị phá vỡ, khuyết thiếu. Có phá vỡ là tàn thạch, nhẹ cũng làm giảm thấp giá trị, nặng tất là bỏ đi. Có hai tình huống dẫn đến tình trạng phá vỡ của đá. Một là do trong quá trình hình thành tự nhiên. Tức là cái chúng ta hay gọi là Thiên Tàn hoặc Lão Băng. Do trong thời gian hình thành có một giai đoạn nào đó có điều kiện sai hỏng, tạo thành các lỗi bề mặt hình thành sau không tương hợp với nguyên gốc lúc đầu. Khiến cho chúng ta cảm thấy chướng mắt. Một loại khác là do con người tạo thành, do chúng ta bất cẩn mà tạo thành các phá vỡ mới, tổn thương mới. Các tổn phá do con người sẽ để lại các vết phá rất mới. Khi chọn lựa đá cần tra xét cẩn thận phát hiện các thương tổn.

Thần Phong: Là xem xem hình nhân vật hay động vật trên đá có hay không đầy đủ Tinh Khí Thần. Quan Sát Thần của đá là thông qua nhìn kỹ hình dáng hoặc nét vân lộ ra tạo thành. Nó khiến cho người ngắm đá cảm nhận được toàn bộ Thần Thái, Tinh Thần, Tâm Trạng, Phong Độ, Khí Chất của đá. Xem cái Thần ẩn trong đá, cần biết rằng Thần tất dựa vào hình mà phát lộ. Song cụ thể mà nói thì mỗi khối đá tự nhiên lại có cái Thần của riêng nó. Phù hợp với Hình, hai yếu tố này cần gắn bó phù hợp với nhau. Đó là Nghệ Thuật của Tự Nhiên. Quan sát Thần của đá cần có cảm thụ nghệ thuật cực kỳ nhạy bén. Tâm lại cần bình thường bất động. Thần của đá ngoài do chính bản thân Đá còn do sự khéo léo sắp đặt trang trí của người sắp đặt. Đồng thời phụ thuộc vào góc quan sát của người ngắm.

Vận Túc: Vận và Thần có điểm chung, có điểm khác, trong đo Vận chính là biểu hiện đặc sắc, đặc biệt của cảm hứng, đường nét, ý cảnh, khí sắc. Vận Túc là các yếu tố trên biểu hiện đầy đủ trang nhã, kỳ thú, thanh thoát. Chính là cái chúng ta vẫn thường nói “Rất có Ý Vị”. Vận đưa đến cho người xem cảm thụ thoải mái hứng khởi. Đá có thể đưa đến cho chúng ta Vận Vị chính là khi chúng ta quan sát ngắm nghía sẽ đưa đến miên miên bất tuyệt các liên tưởng đầy tính thẩm mỹ cao đẹp thanh nhã. Cảm hứng dường như không dứt.

Xuất Điển Nhập Cố: Ý chỉ Kỳ Thạch tất nên mang trong hình dáng hoặc đường nét của nó những câu chuyện, sự tích, truyền thuyết, nhân vật có tính tiêu biểu trong lịch sử. Nói cho cùng thì thưởng thức Bảo Thạch cũng là văn hóa, nội hàm văn hóa rất phong phú. Nó có thể mở rộng tâm trí, khiến chúng ta khai mở tấm lòng, tu tâm dưỡng tính. Hoàn thiện bản thân. Á Đông với ba nền văn minh lớn là Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa đã để lại cho chúng ta rất nhiều tinh hoa văn hóa. Điều này có ý nghĩa phi thường quan trọng với sự phát triển xã hội. Khi chúng ta ngắm Đá mà thấu hiểu được điển cố của nó, tự nhiên phẩm vị của chúng ta cũng được đề cao.

Ngụ Ý Cát Tường: Là chỉ Bảo Thạch mang trong hình dáng, thần thái, hoa văn ngụ ý Cát Tường. Tốt lành, hạnh phúc, đẹp đẽ là cái mà ai trong chúng ta ở cuộc đời này đều hướng tới, hy vọng và kiếm tìm. Nên Bảo Thạch mang ngụ ý Cát Tường vẫn được người ta tìm kiếm săn lùng, có được lại vui vẻ mang ra cùng mọi người thưởng thức. Theo màu sắc thì các Hồng (Hồng hoặc Đỏ), Vàng (Cao quý giàu có), Tím (Cao nhã đoan trang)….Theo hình dáng thì các hình gồm: Quy, Hạc, Đào là trường thọ, Hỷ Thước là vui vẻ, Biển Bức là có phúc, Lộc là có tài lộc, Kê là lành, Dương là tường ….Theo chữ thì Lục là thuận; Bát là phát; Cửu là lâu dài….Trên đây là 28 chữ yếu lĩnh để xem đá và chọn đá. Sao cho chọn đúng được Bảo Thạch. Trong đó có Hình Kỳ, Đồ Mỹ, Thần Phong, Vận Túc là thuộc về cả phương diện chế tạo và đồ họa của đá. Ngoài ra các điều kiện khác thuộc về thưởng thức. Đối với đá còn thô phác chưa qua chế tạo thì cần có Đoan Trang, Ổn Trọng, Bão Mãn, Viên Hoạt, Đại Khí. Cụ thể khi chọn đá đầu tiên chủ yếu lấy Hình Đồ Chất Sắc làm trọng. Đạt được mãn ý là tốt, ngoài ra một số điều kiện khác có thể không quá cầu kỳ. Nếu không dễ bỏ qua nhiều đá tốt. Nói tóm lại 28 chữ trên các bạn linh hoạt vận dụng. Chủ yếu nhất vẫn là cảm ngộ trong Tâm. Cụ Nguyễn Tiên Điền đã nói “Chữ Tâm Kia Mới Bằng Ba Chữ Tài.” đúng thay.!

hangocviet-gioi-thieu-ve-da-quy3

5.LỰA CHỌN ĐÁ QUÝ THEO MẠNG NGŨ HÀNH:

Ngũ hành bao gồm: Kim, Mộc , Thủy, Hỏa, Thổ là 5 thành phần cấu tạo nên vật chất trong quan niệm của văn hóa Phương Đông. Ngũ hành tương sinh như sau:

• Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc:

MỘC >> HỎA >> THỔ >> KIM >> THỦY

• Màu sắc tương ứng của Ngũ hành:

Mộc: màu xanh lá cây

Hỏa: màu đỏ, màu tím

Thổ: màu vàng

Kim: màu trắng

Thủy: màu đen, màu xanh da trời

Con người sinh ra cũng có MẠNG theo Ngũ Hành, và tùy vào Mạng mà người ta lựa chọn đá quý cho phù hợp.

• Mạng Mộc: đá màu xanh lá cây ( MỘC) hoặc màu đen – khói, xanh da trời ( THỦY, vì THỦY sinh MỘC)• Mạng Hỏa: đá màu đỏ, màu tím ( HỎA) hoặc màu xanh lá cây ( MỘC vì MỘC sinh HỎA)

• Mạng Thổ: đá màu vàng ( THỔ ) hoặc màu đỏ, màu tím ( HỎA, vì HỎA sinh THỔ)

• Mạng Kim: đá màu trắng ( KIM ) hoặc màu vàng ( THỔ, vì THỔ sinh KIM.

Mạng Thủy: đá màu đen – khói, xanh da trời (THỦY) hoặc màu trắng (KIM, vì KIM sinh THỦY)

LỰA CHỌN ĐÁ QUÝ THEO NGÀY SINH CỦA BẠN :

Dưới đây là danh sách các loại đá quý có liên quan đến cung hoàng đạo của

– MA KẾT – Capricorn ( 23/12 – 20/01): Garnet, thạch anh hồng, thạch anh ám khói, đá cẩm thạch, Ruby…

– BẢO BÌNH – Aquarius (21/01 – 19/02): Đá mã não, thạch anh tím, đá cẩm thạch, ngọc lam, ngọc lục bảo, đá mặt trắng…

– SONG NGƯ – Pisces (20/02 – 20/03): Thạch anh tím, đá mặt trăng, ngọc lục bảo, đá mắt mèo…

– BẠCH DƯƠNG – Aries (21/03 – 20/04): Thạch anh trắng, Ruby, kim cương…

– KIM NGƯU – Taurus ( 21/04 – 21/05): Thạch anh hồng, ngọc bích, đá Sapphire …

– SONG TỬ – Gemini (22/05 – 21/06): Cẩm thạch đen, đá mắt hổ, đá mặt trăng, thạch anh trắng, Citrine…

– CỰ GIẢI – Cancer ( 22/06 – 22/07): Đá mặt trăng, Ruby, ngọc bích…- SƯ TỬ – Leo (23/07 – 21/08): Đá mắt hổ, đá mã não, thạch anh trắng, đá pê-ri-đốt (peridot)

– XỬ NỮ – Virgo (22/08 – 23/09): Ngọc Sapphire, đá mã não, ngọc xanh da trời…

-THIÊN XỨNG ( Thiên Bình) – Libra ( 24/09 – 23/10): Đá mắt mèo, ngọc bích, đá Sapphire…

– HỔ CÁP ( Thiên Yết) – Scorpio ( 24/10 – 22/11): Citrine ( Thạch anh vàng), thạch anh trắng đục ( trắng sữa), Topaz…

– NHÂN MÃ – Sagittarius ( 23/11 – 22/12): Ngọc anh, thạch anh trắng đục ( trắng sữa), Topaz