Mười ba la mật tức mười độ, hay mười pháp qua bờ, cũng gọi là mười thắng hạnh, tức là 10 đức thù thắng mà các hành giả Bồ-tát thừa phải có đầy đủ trước khi đạt được thành quả giác ngộ hoàn toàn. 10 thắng hạnh này gồm sáu pháp qua bờ, và thêm vào bốn pháp qua bờ nữa là phương tiện, nguyện, lực và trí, được phối hợp với tiến trình tu tập của hàng Bồ-tát cấp Mười-địa. Nói cách khác, mười ba la mật là mười thành quả mà hàng Bồ-tát ở cấp Mười-địa đạt được do công năng tu tập, theo thứ tự như sau:

1. Thí ba la mật: Gồm tài, pháp và vô úy thí; là thành quả của Bồ-tát bậc Sơ-địa (Hoan-hỉ-địa).

2. Giới ba la mật: Không hại sinh mạng, hành trì giới luật để thường tự tỉnh sát; là thành quả của bậc Nhị-địa (Li-cấu-địa);

3. Nhẫn ba la mật: Dứt hết giận hờn, không hủy nhục chúng sinh, nhẫn nhục trước mọi hoàn cảnh cần phải nhẫn; là thành quả của bậc Tam-địa (Phát-quang-địa);

4. Tinh tấn ba la mật: Tinh cần tu tập không phút nào xao lãng; là thành quả của bậc Tứ-địa (Diễm-tuệ-địa);

5. Thiền ba la mật: Thường giữ chánh niệm cho tâm an định; là thành quả của bậc Ngũ-địa (Nan-thắng-địa);

6. Bát nhã ba la mật: Trí tuệ thấy rõ thật tướng của các pháp, thấu suốt diệu lí bình đẳng; là thành quả của bậc Lục-địa (Hiện-tiền-địa);

7. Phương tiện ba la mật: Dùng mọi phương pháp để khai mở trí tuệ, hiểu rõ mọi cách thức giúp ích cho chúng sinh; là thành quả của bậc Thất-địa (Viễn-hành-địa);

8. Nguyện ba la mật: Thường giữ tâm nguyện cứu độ chúng sinh, nói pháp vi diệu, biện tài vô ngại; là thành quả của bậc Bát-địa (Bất-động-địa);

9. Lực ba la mật: Có năng lực phân biệt rõ chân ngụy, tu dưỡng các hạnh lành thực tiễn, giúp chúng sinh dứt bỏ tà kiến; là thành quả của bậc Cửu-địa (Thiện-tuệ-địa);

10. Trí ba la mật: Trí tuệ biết rõ tất cả các pháp, giữ vững trung đạo, không chán sinh tử, không ham niết bàn, có lòng xả rộng lớn; là thành quả của bậc Thập-địa (Pháp-vân-địa).